2015

Unknown 08:49

Giải mã "gu" ăn mặc... nghèo nàn của Steve Jobs và Mark Zuckerberg

Steve Jobs, Mark Zuckerberg và nhiều nhân vật nổi tiếng khác thường xuyên có phong cách ăn mặc tẻ nhạt, mỗi ngày như... mọi ngày
Trong vòng hơn một thập kỷ, Steve Jobs -- người đồng sáng lập, cố CEO Apple -- luôn mặc một kiểu đồ mọi ngày trong tuần: quần jeans Levi's, giày New Balance, áo len cổ cao màu xám. Tương tự, người sáng lập Facebook Mark Zuckerberg thường xuyên xuất hiện với một chiếc áo T-shirt xám trơn đơn giản.
Một số nhân vật nổi tiếng khác như Tổng thống đương nhiệm Hoa Kỳ Barack Obama hay nhà phát minh Albert Einstein cũng giữ thói quen ăn mặc lặp đi lặp lại hàng ngày. Chắc hẳn bạn cũng đã từng thắc mắc tại sao những nhân vật không bao giờ cần phải nghĩ đến vấn đề tài chính khi mua sắm lại chọn cho mình phong cách như vậy?
Steve Jobs từng nói với Walter Isaacson - một nhà văn viết sách tiểu sử cho ông rằng ông thậm chí muốn tất cả nhân viên Apple cùng mặc một loại áo vest.
Nhìn từ góc độ tâm lý học, xu hướng chọn đồ của các nhân vật nói trên hàng ngày có liên quan đến một khái niệm tâm lý gọi là "decision fatigue" (tạm dịch: mệt mỏi vì quyết định, phát ốm vì quyết định). Theo khái niệm này, mức độ năng suất của một người sẽ giảm dần sau khi phải đưa ra nhiều quyết định liên tục, đặc biệt là những quyết định không quá quan trọng.
Hiểu một cách đơn giản, khi phải suy nghĩ quá nhiều đến các vấn đề như mặc gì hàng ngày hay ăn gì cho bữa tối, một người sẽ làm việc kém hiệu quả đi. Thực tế, bản thân Mark Zuckerberg cũng từng thẳng thắn chia sẻ về thói quen mặc đồ lặp đi lặp lại hàng ngày của mình trong một buổi hỏi đáp diễn ra hồi cuối năm ngoái.
Mark từng chia sẻ về thói quen ăn mặc của mình.
"Tôi muốn “dọn dẹp” cuộc đời mình theo kiểu để bản thân ít phải đưa ra quyết định nhất có thể về bất kỳ điều gì, trừ việc phục vụ cộng đồng một cách tốt nhất," Zuckerberg chia sẻ. Cha đẻ Facebook đồng thời nhấn mạnh anh có "rất nhiều áo T-shirt" giống nhau.
Tổng thống Obama cũng từng phát biểu rằng: "Bạn sẽ chỉ thấy tôi mặc vest xám hoặc xanh thôi. Tôi đang cố gắng làm giảm bớt mức độ phải đưa ra các quyết định. Tôi không muốn phải quyết định về vấn đề mình sẽ ăn gì hay mặc gì bởi tôi có đã có quá nhiều quyết định phải đưa ra rồi".
Một số nhận định khác cũng được đưa ra về thói quen ăn mặc... tẻ nhạt của các nhân vật nổi tiếng. Trong trường hợp của Steve Jobs, nhiều người cho rằng việc mặc liên tục, lặp đi lặp lại một kiểu quần áo giúp ông "định vị" được một hình ảnh cá nhân đặc trưng, một thương hiệu cá nhân riêng có và nổi bật trong tâm trí của những người quan tâm. Xét về một khía cạnh nào đó, việc này có lợi trong kinh doanh.

Unknown 08:34

7 BÍ KÍP GIÚP BẠN “ĐỌC SUY NGHĨ” CỦA BẤT KỲ AI

Người xưa có câu: “biết người biết ta trăm trận trăm thắng”. Trong giao tế hàng ngày, nếu bạn có thể đọc được suy nghĩ của người khác thì thật tuyệt vời, vì nó sẽ giúp bạn tránh mắc phải những sai lầm và chủ động hơn trong cuộc sống. 7 bí kíp sau đây sẽ giúp bạn có khả năng thâm nhập vào suy nghĩ đối phương và đọc vị bất kỳ ai:

1. Bí kíp “sự kiện mâu thuẫn”

Bí kíp này cho rằng, nếu nghi ngờ ai đó là kẻ dối trá, bãn hãy kể cho họ những gì bạn biết về hành động dối trá rồi thêm thắt một vài chi tiết mà bạn chắc chắn kẻ đó biết là sai.

Chẳng hạn, nếu muốn biết một đứa bé có ăn vụng bánh ngọt trong tủ hay không, bạn chỉ cần hỏi rằng có phải nó ăn vụng kẹo trong tủ lạnh không? Bạn thừa biết trong đó không có kẹo và nếu đứa trẻ bám vào chi tiết cái kẹo và trả lời rằng“làm gì có kẹo trong tủ chứ!”thì bạn có lý do để nghi ngờ nó. Đơn giản vì thông thường, kẻ gian dối có xu hướng đánh lạc hướng  suy nghĩ người khác bằng cách bám vào các chi tiết vô lý mà hắn biết chắc

2. Bí kíp “lời khuyên”

Nếu đang nghi ngờ ai đó, bạn hãy hỏi lời khuyên của họ về vấn đề mà bạn đang nghi ngờ. Nếu người đó tự nhiên, vui vẻ bàn luận về câu chuyện thì có lẽ bạn đã nhầm. Nhưng người đó cố ý che giấu thì khác, họ sẽ có những biểu hiện lạ nếu bị hỏi trúng “tim đen” và chỉ cần tinh ý một chút, bạn sẽ “bắt thóp” được suy nghĩ của họ.


Hãy hỏi kẻ tình nghi ăn trộm đồ của bạn là “Cậu sẽ làm gì nếu bắt được thằng trộm đồ của tớ?”

3. Bí kíp “gây chú ý”

Có thể hình dung cách này qua một ví dụ kinh điển: Khi muốn điều tra ai là kẻ đã bán thông tin nội bộ của công ty cho đối thủ cạnh tranh, hãy cho các đối tượng tình nghi xem khoảng 3,4 cái tên về những đối thủ cạnh tranh, trong đó có kẻ mua thông tin nội bộ của công ty bạn.
Sau đó hãy hỏi các đối tượng nghi vấn xem họ nghĩ ai là thủ phạm để đánh lạc hướng và quan sát. Một cách tiềm thức, kẻ bán thông tin sẽ chú ý lâu hơn ở tên của kẻ hắn đã bán thông tin cho và tinh mắt là bạn đã đọc được sự thật ẩn giấu trong suy nghĩ của họ
Kẻ phản bội chắc chắn sẽ dừng lại nhìn lâu hơn tập hồ sơ có tên kẻ hắn đã bán thông tin cho

4. Bí kíp lợi dụng đặc điểm người gian dối luôn cố tỏ ra mình trong sạch

Đối với vấn đề chỉ có một cách giải quyết duy nhất và ai cũng biết, hãy hỏi đối tượng khả nghi xem họ làm thế nào đối với điều ấy. Phần lớn kẻ dối trá sẽ tìm cách trả lời một cách lòng vòng và không mấy hiệu quả.
Chẳng hạn, một giám đốc phụ trách bán hàng nghi ngờ một trong những nhân viên kinh doanh của mình đang biển thủ công quỹ. Nếu hỏi trực tiếp “Có phải cô đang lấy trộm đồ của công ty?” sẽ khiến người bị nghi ngờ phòng bị ngay lập tức, việc muốn tìm ra chân tướng sự việc càng trở nên khó khăn hơn. Nếu cô ta không làm việc đó, dĩ nhiên cô ta sẽ nói với người giám đốc mình không lấy trộm. Ngược lại, dù có lấy trộm đi chăng nữa, cô ta cũng sẽ nói dối mình không hề làm vậy. Thay vào việc hỏi trực diện, người giám đốc khôn ngoan nên nói một điều gì đó tưởng chừng vô hại, như:
 “Không biết cô có giúp được tôi việc này không. Có vẻ như dạo này có người trong phòng đang lấy đồ của công ty về nhà phục vụ cho tư lợi cá nhân. Cô có hướng giải quyết nào cho việc này không?”
Sau đó bình tĩnh quan sát phản ứng của người nhân viên.
Nếu cô ta hỏi lại và có vẻ hứng thú với đề tài này, anh ta có thể tạm an tâm rằng cô ta không lấy trộm, còn nếu cô ta đột nhiên trở nên không thoải mái và tìm cách thay đổi đề tài thì rõ ràng cô ta có động cơ không trong sáng.
Người giám đốc khi đó sẽ nhận ra sự chuyển hướng đột ngột trong thái độ và hành vi của người nhân viên. Nếu cô gái đó hoàn toàn trong sạch, có lẽ cô ta sẽ đưa ra hướng giải quyết của mình và vui vẻ khi sếp hỏi ý kiến của mình. Ngược lại, cô ta sẽ có biểu hiện không thoải mái rõ ràng và có lẽ sẽ cố cam đoan với sếp rằng cô không đời nào làm việc như vậy. Không có lí do gì để cô ta phải thanh minh như vậy, trừ phi cô là người có cảm giác tội lỗi…

5. Bí kíp “biểu lộ”

Bí kíp này cho rằng, con người có xu hướng loại bỏ mọi mối liên hệ tới việc mình đang che giấu mà không hề biết những hành động nhằm mục đích ấy chỉ khiến họ thêm bị nghi ngờ.
Chẳng hạn, nghi ngờ người thân mình lén hút thuốc, hãy giả vờ đọc báo và nói trước mặt người ấy một cách tình cờ:
 “Thì ra là khi nghiện thuốc lá, người ta thường ít uống nước lắm”.
Nếu bỗng từ hôm đó người nghe thường xuyên cố ý uống nước trước mặt bạn thì có lẽ bạn có thể khẳng định chắc chắn suy nghĩcủa mình là đúng rồi đấy.

6. Bí kíp “tự tin và áp lực”

Bí kíp này khẳng định, thông thường, một người không giấu giếm hay làm điều gì sai trái sẽ rất thoải mái, tự tin trong bất cứ hành động nhỏ nhất nào. Thế nhưng, một người gian dối và sợ người khác phát hiện việc làm của mình thì luôn chịu áp lực cực lớn

Bạn có công nhận những kẻ dối trá hay bất cẩn trong những hành động nhỏ nhất như rót nước không?
Các chuyên gia chứng minh rằng, khi thiếu tự tin, con người rất chú ý tới bản thân mình, ngay cả với những việc đơn giản như rót nước, kéo ghế ngồi… Những ánh mắt nhìn chăm chú, lấm lét liên tục, hành động chậm, cẩn trọng quá mức cần thiết… đó chính là lời tự tố giác hành vi sai trái của người khác nếu bạn tinh mắt để ý.

Unknown 12:40
Ta cứ ngỡ tuổi thanh xuân là mãi mãi, ta từ tốn làm những việc cần làm và vội vã tiêu xài nhiệt huyết vào những điều không đáng.

 Tháng 4.2014, tôi đi Tây Ninh. Buổi chiều hôm ấy ngồi trong quán cà phê, nói chuyện với một em trai 17 tuổi. Nhà em ở huyện Bến Cầu. Nghỉ học giữa chừng, em đi làm giữ xe ở quán cà phê, một tháng kiếm 2 triệu, chủ quán bao cơm.

 Em ngồi như vậy từ 7 giờ sáng đến 11 giờ tối, cùng với một người nữa, có thay phiên để nghỉ ngơi chút đỉnh trong giờ vắng khách. Mỗi ngày em kiếm được chừng 70.000 đồng. Em không phải người trẻ đầu tiên tôi gặp phải bán thời gian trẻ nhất của mình để kiếm đủ số tiền lo hai bữa ăn và giúp đỡ một người thân nào đó trong cuộc sống thường nhật.
Travel Insurance
Travel Insurance 


Ở Sài Gòn cũng không khác. Hàng chục ngàn em trai, em gái, 13 -15 tuổi, trẻ trung, xinh đẹp, lơ ngơ vào thành phố, làm một công việc gì đó như giữ xe, ngồi ghi vé xe, ngồi xếp trái cây, đứng xếp sữa lên kệ, ngồi đánh dấu người ra vào cơ quan… Những công việc ấy có ưu điểm: đem lại miếng ăn – vốn cực kỳ ngặt nghèo và khó khăn với những đứa trẻ ở nông thôn, sinh ra trong gia đình nghèo khó và không có việc làm. Em nói với tôi: “Em may mắn có việc, chứ bạn em ngồi quán cà phê cả ngày, không việc làm, lại nợ tiền… cà phê”.
Chuyện nói ra như đùa. Thật là một tin mừng vì cuối cùng những người trẻ ở nông thôn cũng tìm được việc gì đó làm, kiếm được chút tiền cho bữa ăn hàng ngày, và họ không phạm tội ác gì ghê gớm vì… quá rảnh. Nghĩ như vậy cho lạc quan, bởi còn biết bao người trẻ ngoài kia la cà ngoài quán game, thất nghiệp thành trộm cướp, ăn bám gia đình.
Nhưng tương lai của họ là gì, nếu năm tháng đáng giá nhất này, họ chỉ ngồi để kiếm tiền. Họ ngồi hết 8 tiếng, 12 tiếng rồi trở về nhà, ngã lăn trên những tấm chiếu tạm bợ của phòng trọ, ngủ say ngất đi, để rồi sáng mai lại tỉnh dậy, ngồi tiếp những ngày tháng khác hòng có tiền lương mỗi tháng. Họ không tiến triển chút nào trong nghề nghiệp, hoặc có thêm rất ít chuyên môn, vì chuyên môn chính chỉ là ngồi, nhìn, đứng, đi lại, hỏi han, dắt xe.
Đó là các nghề lương thiện. Nhưng đó là các nghề bán đổi tuổi trẻ và thời gian để lấy tiền mưu sinh, nơi các ông bà chủ nhìn vào bạn, thấy bạn 18 -20 tuổi, trẻ khỏe, xinh đẹp, có thể dắt xe không mỏi tay, đứng lâu không mỏi chân, hay xinh đẹp cho khách đến nhìn cho đẹp mắt (giống một cái bình hoa). Người ta trả tiền để mua tuổi trẻ và tháng ngày của bạn, với giá 100.000 đồng 24 giờ. Giá siêu rẻ!
Travel Insurance
Travel Insurance 


Tôi quen một thầy giáo, ông rất giỏi tiếng Anh. Khi ông theo một chương trình nghiên cứu đi Mỹ, chúng tôi ngồi nói chuyện. Ông kể rằng năm ông 14 tuổi, vì gia đình gặp nạn, cha ông đi tù, mẹ ông từ người làm công chức phải ra hàng chạy chợ kiếm tiền nuôi 4 đứa con. Ông “đã lớn” nên phải theo mẹ ra chợ giữ xe, nghỉ học sớm. Hàng ngày ông xé một trang trong quyển từ điển tiếng Anh loại rẻ tiền mà ông mua ở một hàng sách cũ, dắt theo trong người, rồi ra bãi giữ xe.
Hết ngày hôm đó, dù có phải dắt xe hay không dắt xe, đông khách hay không đông khách, ông cũng quyết phải học thuộc các từ trong ấy, dùng bút chép lung tung vào quyển vở mang theo. Quyển từ điển vơi dần, ông cũng thuộc thêm nhiều từ, nhiều câu, cộng với mấy quyển sách học viết, ông tự học tiếng Anh và vẫn đi giữ xe, kiếm tiền phụ mẹ nuôi em. Khi tiễn ông ra sân bay, tôi không thể tin người đàn ông chững chạc và thành đạt trước mắt mình lại từng 14 tuổi, đi giữ xe, chạy chợ và học thành thạo một ngôn ngữ.
Khi nhìn thấy những ánh mắt trẻ làm các nghề ngồi, nghề giết thời gian đổi tiền, tôi nghĩ tới ông, nghĩ tới cả những người Nhật tôi từng gặp, đi một chuyến tàu 20 phút về nhà cũng giở sách ra đọc, coi như đọc được vài trang. Mỗi ngày người công chức Nhật đi làm đọc 3 trang sách, 30 ngày là được 30 trang từ điển và 90 trang sách. Cái thời gian ngắn ngủi, ngán ngẩm và tiêu tốn mà các bạn đang phải đem ra để đánh đổi lấy tiền ăn, tiền sống, thực ra cũng có thể tận dụng theo một cách khác.
Bạn có thể đọc hết một quyển sách trong 3 tháng, có thể chậm hơn một em sinh viên ngồi cả ngày trong thư viện. Bạn có thể học hết một quyển chuyên đề trong 4 tháng, càng chậm hơn so với một người có chuyên ngành và được cha mẹ trả tiền cho đi học. Nhưng dù chậm trễ đến vậy, bạn cũng đang tiêu xài những khoảnh khắc ngắn một cách có ích, thay vì ngán ngẩm ngồi nhìn khách vào tòa nhà, ngán ngẩm ngồi canh kệ thuốc lá, ngán ngẩm ngồi chờ khách ra xe, ngán ngẩm mở những clip hài trên mạng cho nhau xem, cười hề hề, xem truyện (nên đọc khi về nhà ngủ), check Facebook, tán dóc điện thoại, tốn tiền xem hàng online giá rẻ mà không có lúc nào đi mua được.
Travel Insurance
Travel Insurance 


Lâu rồi, trên đài phát thanh tôi từng nghe, có kể chuyện một anh chế máy nông cụ. Người ta hỏi anh vì sao làm công chức giấy tờ lại biết chế máy cho nông dân, mà chế có vẻ thực tế vậy. Anh kể, hàng ngày tôi đi làm, đều phải ngồi xe công ty một tiếng để tới thành phố vào làm. Một tiếng đó tôi ngồi đọc sách, vẽ mẫu, xong đâu đấy thì chế thử, cuối cùng cũng ra.
Vậy là khi vài chục người khác cùng công ty trên chuyến xe của anh đang ngủ, đang tán dóc, đang nghe nhạc, đang nói xấu đồng nghiệp, thì anh ta đọc sách. Với một năm đi làm, anh ta vừa có lương, vừa “thặng dư” được 200 – 300 giờ đọc sách, tức là tương đương 8 – 12 ngày đọc sách 24 giờ liên tiếp. Mớ kiến thức tưởng chừng đùa giỡn của anh công chức, trang từ điển tưởng chừng xé ra chơi của ông thầy, gom lại đã thành một tương lai rất khác của người ta – khi ta trẻ và thừa thãi thời gian để tiêu phí.
Bây giờ còn dễ hơn xưa cả trăm lần. Ông thầy tôi phải tốn công xé giấy, anh công chức phải vác sách theo. Chớ bây giờ, ai cũng có cái điện thoại để nghe nhạc, chơi Facebook, xem phim, xem clip hài. Mấy cái điện thoại đó có thể xem được vô số loại sách vở trên đời, cứ mở ra nhìn vô là thấy thứ để đọc.
Hãy tưởng tượng mà xem, khi bạn 18 -20 tuổi, người ta sẵn sàng thuê bạn để ngồi, để làm bảo vệ, làm tiếp viên, làm nhân viên đón khách… vì bạn trẻ, đẹp, có nụ cười tươi, có sức khỏe, có vóc dáng. Đến khi bạn 40 tuổi, nhan sắc tàn, sức khỏe xấu, vóc dáng béo phệ, và bạn vẫn chẳng biết làm gì hơn là bán thời gian của mình để… ngồi, liệu có còn ai thuê bạn không?
Vào một lúc nào đó…  ta phải chi xài tuổi trẻ của mình một cách hợp lí, dù đang bị trăm thứ cơm áo gạo tiền ghì lấy.
Mình phải biết một thứ gì đó thật tốt, phải có một “chuyên môn” gì đó, dù nhỏ tí xíu và đơn giản, phải có tri thức cho chính mình, dù ít hay nhiều. Trong một bài nói chuyện tôi từng nghe, bà diễn giả bảo bà cực kỳ ngạc nhiên về sự thay đổi của công nhân Trung Quốc, ở khu công nghiệp bà khảo sát, có những lớp dạy tiếng Anh cả 2-3 giờ sáng, dạy theo bất cứ ca nào có công nhân cần học. Và giờ thì giá tiền lương công nhân Trung Quốc hết rẻ nhất rồi vì họ chăm quá mà.
Thôi mình đừng ngồi ngơ ngác nhấn chìm thời gian nữa…. chỉ để đổi lấy vài triệu ít ỏi cho cơm áo hàng ngày.
Theo : ayp.vn/

Unknown 12:01
Thầy hỏi: “Nếu các trò lên núi chặt cây, vừa vặn trước mắt có hai gốc cây, một gốc cây to, một gốc cây nhỏ, các em sẽ chặt gốc nào?” Câu hỏi vừa ra, tất cả học sinh đều nói: “Tất nhiên là chặt gốc cây to rồi.”
Thầy cười cười, nói: “Gốc cây to kia chỉ là một gốc bạch dương bình thường, mà gốc cây nhỏ kia lại là một cây thông, bây giờ các em sẽ chặt cây nào?”
Chúng tôi nghĩ, cây thông tương đối trân quý, nên trả lời: “Tất nhiên sẽ chặt cây thông, bạch dương không được bao nhiêu tiền!”
Thầy mang theo nụ cười không đổi nhìn chúng tôi, hỏi: “Nếu gốc cây dương là thẳng tắp, mà cây thông lại uốn éo xiêu vẹo, các em sẽ chặt cây nào?”
Chúng tôi cảm thấy có chút nghi hoặc, liền nói: “Nếu là như vậy, hay là vẫn chặt cây dương. Cây thông cong queo ngoằn ngoèo, làm gì cũng không làm được!” Ánh mắt thầy lóe lên, chúng tôi đoán là thầy sẽ thêm điều kiện nữa, quả nhiên, thầy nói: “Cây dương tuy thẳng tắp, nhưng bởi đã lâu năm, nên phần giữa mục rỗng, lúc này, các em sẽ chặt gốc nào?” Tuy không hiểu nổi trong hồ lô của thầy bán thuốc gì, chúng tôi vẫn từ điều kiện của thầy mà suy nghĩ, nói: “Thế thì lại chặt cây thông, cây dương ở giữa đã mục rỗng, càng không thể dùng!” Sau đó thầy liền hỏi: “Thế nhưng dù cây thông ở giữa không mục rỗng, nhưng nó cong queo quá ghê gớm, bắt đầu chặt rất khó khăn, các em sẽ chặt gốc nào?” Chúng tôi dứt khoát không suy nghĩ kết luận của thầy là gì nữa, liền nói: “Vậy chặt cây dương. Đều không thể dùng như nhau, đương nhiên chọn cây dễ chặt!” Thầy không để chúng tôi thở, liền hỏi: “Thế nhưng trên cây dương có một tổ chim, mấy con chim non đang ở trong ổ, các em sẽ chặt gốc nào?” Cuối cùng, có người hỏi: “Thầy ơi! Rốt cuộc thầy muốn nói gì cho chúng em vậy? Hỏi những thứ đó làm gì vậy thầy?” Thầy thu hồi nụ cười, nói: “Các em vì sao không tự hỏi mình, rốt cuộc là chặt cây để làm gì? Tuy điều kiện của thầy thay đổi, nhưng yếu tố cuối cùng quyết định kết quả là động cơ ban đầu của các em. Nếu muốn lấy củi, các em liền chặt cây dương; muốn làm hàng mỹ nghệ, liền chặt cây thông. Các em tất nhiên sẽ không vô duyên vô cớ cầm theo búa lên núi chặt cây chứ?!” Một người, chỉ khi trong nội tâm đã có mục tiêu từ trước,thì lúc làm việc mới không bị đủ loại điều kiện và hiện tượng bên ngoài mê hoặc. Mục tiêu của bạn đã rõ ràng sao? Tư tưởng thông suốt, mới có thể kiên trì.
Nguồn daikynguyenvn

Unknown 08:28
Một trong những yếu tố quan trọng dẫn tới thành công là sự kiên trì, thứ mà hiếm người có được. Kiên trì là một trạng thái tinh thần, vì vậy nó có thể được trau dồi và rèn luyện.
Thành công là điều bất kỳ ai cũng đều mong muốn có được trong cuộc sống. Đó có thể là thành công trong sự nghiệp, trong xây dựng gia đình hay thực hiện ước mơ, hoài bão. Nhưng có một thực tế tại sao có những người đã cố gắng tột độ nhưng vẫn thất bại? Tại sao những người thất bại chiếm đa số so với một số ít những người thành công?

Một trong những yếu tố quan trọng dẫn tới thành công là sự kiên trì, thứ mà hiếm người có được. Kiên trì là một trạng thái tinh thần, vì vậy nó có thể được trau dồi và rèn luyện. Vậy làm sao những người thành công, những tỷ phú hay nhà khoa học vĩ đại có thể rèn luyện được đức tính này. Tác giả nổi tiếng Napoleon Hill chỉ ra rằng, lòng kiên trì dựa trên những động cơ cơ bản sau:

1. Mục đích rõ ràng

Biết mình muốn gì là bước đầu tiên và quan trọng nhất để phát triển lòng kiên trì. Một động cơ mạnh mẽ luôn giúp ta vượt qua được nhiều ghềnh thác. Thông thường khi được làm việc mình lựa chọn có phương hướng, đường đi rõ ràng sẽ khiến con người tự tin vào quyết định của mình khi phải đối mặt với thử thách

2. Khát vọng

Lòng kiên trì có thể đạt được và duy trì khá dễ dàng nếu bạn theo đuổi một mục đích mà bạn khao khát mãnh liệt. Trong cuốn sách The Art of the Deal (tạm dịch: Nghệ thuật thương lượng), ông trùm bất động sản Donald Trump từng viết: “Tôi không thực hiện thương lượng vì tiền. Bởi tôi không những đã có đủ tiền mà còn có nhiều hơn mức tôi cần. Tôi thực hiện thương lượng vì lòng yêu thích”. Động lực khiến ông trùm này thực hiện những thương vụ táo bạo không phải vì tiền mà là khát vọng mong muốn đem lại những công trình có giá trị, cung cấp dịch vụ giải trí tới mọi người.

Tất nhiên khi theo đuổi khát vọng lớn và làm tốt công việc, bạn sẽ được trả công xứng đáng. Vì vậy, hãy tự hỏi bản thân mình bạn đang khát vọng nhất điều gì và đi theo tiếng gọi của nó.

3. Sự tự lực

Có một sự thật hiển nhiên là thành công của người này không thể trao tặng hay truyền lại cho người khác, đây là tài sản đặc biệt của mỗi người. Bạn không thể nhìn vào thành công của người khác và ao ước mình cũng được như thế mà không cần tự nỗ lực thực hiện. Tin vào khả năng của bản thân có thể tiến hành một kế hoạch khuyến khích bạn theo đuổi kế hoạch đó với lòng kiên trì.

4. Có kế hoạch rõ ràng

Khi bạn xác định được mục tiêu rõ ràng, có khát vọng cháy bỏng và sự nỗ lực thì một kế hoạch rõ ràng là đường đi tiếp theo hướng bạn tới thành công và giúp bạn vượt qua những khó khăn, chán nản, kiên trì theo đuổi mục tiêu của mình. Những kế hoạch được tổ chức, dù lỏng lẻo và hoàn toàn không thực tế, cũng khuyến khích được lòng kiên trì.

5. Có hiểu biết đúng đắn

Biết được rằng những kế hoạch của mình là đúng đắn dựa trên kinh nghiệm và sự quan sát cũng khuyến khích lòng kiên trì, “suy đoán” thay cho “hiểu biết” sẽ tiêu diệt sự kiên trì. Điều này cũng giống như đi việc bạn đi tới đích nhờ có bản đồ định hướng sẽ tốt hơn là phỏng đoán hướng đi.

6. Sức mạnh ý chí

Thói quen tập trung suy nghĩ vào xây dựng kế hoạch để đạt được một mục đích rõ ràng cũng dẫn đến lòng kiên trì.

7. Thói quen

Lòng kiên trì là kết quả trực tiếp của thói quen. Jim Ryun từng phát biểu: “Động lực là thứ giúp bạn bắt đầu. Thói quen là thứ giữ cho bạn tiếp tục bước tới.” Vì vậy hãy rèn luyện những thói quen tốt từng bước một. Những thói quen tốt như tư duy tích cực, kiên nhẫn hay kỷ luật sẽ khiến bạn trở nên kiên trì đi tới đích phía trước thay vì dễ dàng bỏ cuộc như những người làm ngẫu hứng.

Hãy tự khám phá bản thân bạn và xác định xem những động lực nào bạn còn thiếu để có được phẩm chất quan trọng này.

Vậy xây dựng lòng kiên trì có khó hay không? Sau khi hiểu các động lực đằng sau phẩm chất này, bạn có thể xây dựng thói quen kiên trì bằng 4 bước cần thiết sau:

Bước 1: Một mục đích xác định được hậu thuẫn bởi một khát khao cháy bỏng nhằm thực hiện nó.

Bước 2: Một kế hoạch rõ ràng được thể hiện ua những hành động liên tục.

Bước 3: Một tâm trí miễn dịch với những ảnh hưởng tiêu cực và gây nản lòng, bao gồm cả những lời bình phẩm thiếu tích cực của họ hàng, bạn bè hay những mối quan hệ quen biết.

Bước 4: Kết giao thân thiện với một hay nhiều người cùng chí hướng sẽ khuyến khích bạn tiếp tục theo đuổi kế hoạch cũng như mục đích của mình.
Theo Infonet
Từ Cafebiz

Unknown 13:12
Hành trình nghiên cứu khoa học để tìm ra phương pháp giúp bạn biến não bộ thành chiếc thẻ nhớ không giới hạn. 
 “Có công mài sắt có ngày nên kim” là câu thành ngữ được sử dụng để nhắc nhở ta về việc học hành, trau dồi kiến thức trong cuộc sống. Tuy nhiên, không phải ai cũng hiểu, mài một thanh sắt cũng cần những phương pháp chính xác để có chiếc kim tốt nhất nhưng trong thời gian ngắn nhất. Việc học tập cũng tương tự như vậy. Cặm cụi ngày đêm đèn sách chưa chắc đã giúp bạn ghi nhớ hết lượng kiến thức khổng lồ của nhân loại. Đồng thời, cách này sẽ làm bạn lãng phí rất nhiều thời gian và bỏ lỡ những trải nghiệm của tuổi trẻ .
Một vài phương pháp dưới đây sẽ giúp bạn ghi nhớ hiệu quả lại không cần tốn quá nhiều thời gian, công sức. Đó chính là những chiếc chìa khóa giúp bạn mở cửa tiềm năng vô hạn của não bộ.
Khởi nguồn từ niềm cảm hứng thiên tài ghi nhớ...
Vào thế kỷ XVI, một tu sĩ dòng Công giáo người Ý có tên Matteo Ricci (1552 - 1610) đã khiến cho thế giới sửng sốt về khả năng ghi nhớ của con người. Chỉ trong một thời gian ngắn, Ricci đã có thể học đến mức độ đọc thông viết thạo tiếng Trung cổ - điều mà ngay cả nhiều người Trung Quốc bản địa chưa chắc đã làm nổi. Cụ thể, Ricci đã có thể vượt qua những bài thi về ngôn ngữ vô cùng khó, bao gồm nhiều thành ngữ, tục ngữ hay những điển tích điển cố phức tạp.
     Matteo Ricci trong trang phục của người Trung Hoa xưa

... tới nghiên cứu tìm ra phương pháp học tiết kiệm thời gian nhất...
Dựa trên câu chuyện đó, các nhà khoa học hiện nay đang bắt tay vào nghiên cứu về trí nhớ và khả năng vô tận của bộ não con người.
Những nhà nghiên cứu từ ĐH College London đã hợp tác với Ed Cooke (nhà văn người Anh với biệt danh Bậc thầy trí nhớ) để cùng thiết kế một ứng dụng giáo dục có tên Memrise, dựa trên một số nguyên tắc về khả năng ghi nhớ thông tin của bộ não.
     Bộ não con người ẩn chứa những khả năng vô tận
 Để có thể dễ dàng hơn trong việc thiết kế chương trình này, nhóm nghiên cứu đã tổ chức một cuộc thi nhỏ để chọn lọc ra những phương pháp tốt nhất giúp tăng cường khả năng ghi nhớ thông tin của bộ não. Rất nhiều các chuyên gia về trí nhớ từ khắp nơi trên toàn thế giới đã được mời đến để làm thí sinh nhằm hỗ trợ các nhà nghiên cứu thực hiện mục đích chính của cuộc thi này.
Thể lệ cuộc thi rất đơn giản. Ban giám khảo sẽ phát cho các thí sinh một danh sách gồm 80 từ và cho mỗi người một giờ đồng hồ để học thuộc danh sách từ đó.
Để thêm độ hấp dẫn cho cuộc thi, 80 từ này sẽ không được viết bằng tiếng Anh mà bằng tiếng Lít-va - một ngôn ngữ có từ vựng rất phức tạp và kèm theo đó sẽ là ý nghĩa của các từ trong tiếng Anh. Sau một tuần, các thí sinh sẽ được gọi trở lại và kiểm tra khả năng ghi nhớ của mình. Đã có rất nhiều thí sinh thể hiện sự vô vọng và nhiều người lăn ra ngủ sau khi bài kiểm tra về danh sách từ được phát chưa lâu. Thậm chí nhiều người còn tự tiếp thêm động lực bằng bánh ngọt, cà phê nhưng chừng đó vẫn chưa đủ để ngăn lại sự chán nản hiện rõ trên khuôn mặt họ.
Điều này chứng tỏ, ngay cả các nhà khoa học cũng gặp rất nhiều khó khăn trong việc chuyển hóa lý thuyết ghi nhớ trong thực tế cuộc sống.
Song bên cạnh đó, có rất nhiều thí sinh tỏ ra hào hứng và hoàn thành rất tốt yêu cầu của cuộc thi. Qua quan sát, nhóm nghiên cứu nhận thấy đặc điểm chung của những thí sinh dạng này: Thay vì tập trung riêng vào một kỹ thuật để học thuộc, họ có xu hướng sử dụng sự kết hợp của các chiến lược khác nhau.
Vậy những chiến thuật hiệu quả ấy là gì? Sau khi tổng hợp, các chuyên gia thống kê lại như sau:
Thứ nhất, càng sai nhiều thì càng nhớ lâu, học giỏi.
Nội dung cơ bản của phương pháp này là tự kiểm tra vốn kiến thức của mình nhiều lần. Điều này sẽ giúp bạn có thể ghi nhớ được lâu một kiến thức mà bạn mới tiếp nhận.
Cụ thể, dù có trong tay ý nghĩa của các từ Lít-va cần học thuộc bằng tiếng Anh, nhưng một số thí sinh quyết không sử dụng mà sẽ tự mình đoán. Tất nhiên, tỉ lệ đoán sai là rất lớn. Tuy nhiên, sau đó, họ tra lại nghĩa và việc ghi nhớ các từ này trở nên rất đơn giản.
  Muốn nhớ lâu, nhớ dai thì đừng ngại đoán sai, điểm kém!

Dựa trên phương pháp này, nhóm nghiên cứu đã đưa ra một ý tưởng mới trong việc cải thiện khả năng ghi nhớ. Nếu tăng thêm một chút khó khăn vào điều cần nhớ, bạn sẽ có một sự tập trung lớn hơn và điều này sẽ giúp kiến thức “bám rễ” một cách chắc chắn hơn trong trí nhớ não bộ.
Thứ hai, hãy cố gắng phân loại các kiến thức cần học thuộc.
Đây cũng là một phương pháp được nhiều thí sinh lựa chọn. Dựa trên một số đặc điểm chung về cấu tạo từ vựng, các thí sinh sẽ phân loại 80 từ thành nhiều nhóm khác nhau. Chẳng hạn, ta sẽ có nhóm từ chỉ động vật, nhóm từ chỉ con người hay nhóm danh từ, nhóm động từ, tính từ...
Với thủ thuật trên, chỉ cần nhớ được chủ đề chính và ý nghĩa của việc phân loại các nhóm các thí sinh có thể nhớ được chính xác tất cả 80 từ. Nói một cách ví von, phương pháp này cũng giống như ăn một chiếc bánh gatô tuyệt hảo. Thay vì ăn cả một cái to, bạn sẽ cảm thấy ngon miệng và dễ ăn hơn nếu được nhâm nhi những miếng bánh nhỏ.
           Những câu chuyện tưởng tượng sẽ làm cho kiến thức trở nên sống động hơn rất nhiều

Chẳng hạn, có một thí sinh nữ đã xây dựng thành công câu chuyện gồm 80 từ cần học thuộc. Cô hình dung mình đang ở trong một căn phòng và tại đó có một chiếc “lova” (giường). Tiếp theo, cô tưởng tượng người yêu mình cũng ở đó, ngồi trên một chiếc ghế dài và ăn bánh mỳ. Cứ như thế cô ấy đã vẽ ra cho mình một câu chuyện có sự đóng góp của tất cả 80 từ trong danh sách được phát.
Hãy để trí tưởng tượng của bạn được bay xa khi học tập
Trở lại với lịch sử, người ta cũng phát hiện ra đây chính là phương pháp cho phép tu sĩ Matteo Ricci có thể học tiếng Trung cổ một cách nhanh chóng, và đồng thời cũng là cách mà Ed Cooke chiến thắng trong cuộc thi “Bậc thầy về trí nhớ”.
Còn bạn, bạn đã sẵn sàng để mở toang cánh cửa tiềm năng của bộ não mình hay chưa?
* Bài viết dựa trên quan điểm của David Robson, một cây viết uy tín trong lĩnh vực tâm thần học, tiến hóa và ngôn ngữ học của BBC.
Theo NAC- Tri Thức Trẻ

Unknown 14:02
Trong buổi ra mắt Bphone, với trang phục giản dị "quần bò áo thun đen" đúng kiểu Steve Jobs, CEO Nguyễn Tử Quảng của Bkav liên tục nhắc lại câu nói: "Thật tuyệt vời", "Không thể tin nổi". Hành động này gây ấn tượng với khách mời có mặt tại sự kiện, cũng như những người theo dõi buổi ra mắt qua kênh trực tuyến. Sau khi buổi lễ kết thúc, câu cửa miệng của lãnh đạo Bkav đã nhanh chóng được cộng đồng mạng mang ra bàn tán và lan truyền. Hàng loạt ảnh chế hài hước về câu nói: "Thật tuyệt vời", "không thể tin nổi" xuất hiện trên các diễn đàn trong nước.

Bài viết: http://news.zing.vn/Thong-diep-khong-the-tin-noi-cua-Bphone-gay-sot-tren-mang-post543305.html

Nguồn Zing News

Unknown 20:04

“Văn hóa làm việc với người Nhật” là sự hướng dẫn tuyệt vời cho những người muốn hiểu được khác biệt giữa Nhật Bản với các nước phương Tây, và cách để giải quyết những khác biệt đó nhằm phát triển hoạt động trao đổi thông tin, cộng tác và hợp tác.

Về tác giả
John Condon là chuyên gia nổi tiếng về giao thoa văn hóa. Ông đã có thời gian sống và làm việc lâu dài với người Nhật.
Tomoko Matsumoto là giáo sư về truyền thông tại Đại học Nghiên cứu Quốc tế Kanda ở ngoại ô Tokyo.
Nội dung chính
Nguyên tác: With Respect to The Japanese
Người dịch: Thanh Huyền
Bản quyền tiếng Việt: Thái Hà Books
1. Tất cả những gì tôi cần biết, họ đã học ở trường mẫu giáo
Trong cuốn "Tất cả những gì tôi cần biết, tôi đã học ở trường mẫu giáo" - cuốn sách bán chạy nhất ở Mỹ vài năm trước, tác giả Robert Fulghum viết về kiến thức đơn giản khi học cách chia sẻ mọi thứ, nắm tay và đi sát nhau khi băng qua đường.
Hàng thập kỷ trước, khi cuốn sách thú vị của Fulghum ra đời, các nhà khoa học ở Nhật đã có một nghiên cứu về hành vi của trẻ em ở các trường mẫu giáo của Mỹ và các trường quốc tế so với hành vi của trẻ em trong các trường mẫu giáo ở Nhật Bản.
Các nhà nghiên cứu quan tâm đến tranh vẽ của bọn trẻ. Họ băn khoăn liệu khi nhận được cùng một chỉ dẫn, những đứa trẻ từ các nền văn hoá khác nhau có tạo nên các bức tranh khác nhau hay không.
Câu trả lời là có, rõ ràng đến nỗi gần như ai cũng có thể phân loại được bức nào là do bọn trẻ Nhật Bản vẽ và bức nào là của trẻ em Bắc Mỹ, Úc và châu Âu.
Đầu tiên là cách bố trí chỗ ngồi ở mỗi trường. Ở một số phòng học của Mỹ, có những chiếc bàn riêng. Ở tất cả các trường mẫu giáo của Nhật, trẻ em ngồi quanh những chiếc bàn, tạo thành các nhóm sáu hay tám bé.
Nguyên tắc của các giáo viên cũng khác nhau. Các giáo viên người Mỹ mời các vị khách "đi thẳng vào vấn đề và bảo các em họ muốn các em làm gì". Ở các trường của Nhật, tất cả việc truyền đạt thông tin đều do giáo viên kiểm soát, họ chịu trách nhiệm và đóng vai trò cầu nối, thực hiện. "Hãy cho tôi biết các bạn muốn tôi nói gì với các em", giáo viên Nhật sẽ nói như vậy.
Cách bọn trẻ bắt đầu và thực hiện hoạt động cũng khác biệt. Thường thì sau khi nhận được tờ giấy, một đứa trẻ người Mỹ sẽ bắt đầu vẽ ngay. Khi bức tranh đã hoàn thành, bọn trẻ sẽ giơ lên để thông báo hoặc sẽ mang lên bàn giáo viên.
Ở các trường của Nhật thì trẻ em đợi đến khi tất cả các tờ giấy đã được phát. Sau đó, ở mỗi bàn, các em nhìn nhau và nói chuyện một chút về những việc chúng chuẩn bị làm. Sau đó, từng bàn một, như thể có tín hiệu, tất cả các em bắt đầu vẽ. Trong suốt quá trình vẽ, bọn trẻ sẽ quay ra và xem những đứa khác đang làm gì. Những em hoàn thành trước tiên sẽ đợi đến khi các bạn khác xong, và khi tất cả đã hoàn thành thì các bức vẽ sẽ được thu lại.
Nếu bọn trẻ tỏ ra khó khăn khi vẽ ai đó trong gia đình, phản ứng của các giáo viên cũng khác nhau. Giáo viên người Nhật thường hỗ trợ đứa trẻ, cầm tay trẻ và điều khiến chiếc bút màu. Ở các trường của Mỹ, giáo viên khuyến khích các em với các từ như "Hãy cố gắng hết sức" hay "Trong tranh là bố của em đấy, em hãy cố vẽ theo cách mà em nhìn thấy bố em nhé".
Cuối cùng, trình tự mà các thành viên gia đình được vẽ ra cũng khác nhau đáng kể. Với trẻ em Nhật, trình tự thường bắt đầu từ bố, me, rồi đến anh chị. Đứa trẻ sẽ vẽ mình tiếp theo, và nếu vẫn còn em nhỏ hơn, các bé sẽ vẽ cuối cùng.
Với trẻ em Mỹ và các em từ các nước khác, trình tự có vẽ như ngẫu nhiên hơn nhiều. Xu hướng đáng chú ý duy nhất là một số trẻ em Mỹ sẽ vẽ mình đầu tiên.
Tôi hay chúng ta?
Bằng vô số cách, cả hiển nhiên và tinh tế, người Nhật Bản được khuyến khích trước tiên tới quan hệ của họ với người khác. "Chúng ta" trước "tôi". "Chúng ta" theo nghĩa gia đình, mái trường, đất nước, hay đơn giản là những người đang cùng trò chuyện trong phòng. Một cá nhân không bao giờ hoàn toàn độc lập, mà luôn phải có ý thức về những người khác.
Với nhiều người từ các nền văn hoá khác, cá nhân, chứ không phải nhóm, mới là căn bản.
Đây không đơn giản chỉ là những khác biệt văn hoá thú vị. Chúng chính là những vấn đề về cảm xúc. Một vị khách có thể phiền lòng nếu một người Nhật thể hiện quan điểm mở đầu bằng cụm từ "Người Nhật chúng tôi" (Wareware Nihonjin). Người Mỹ thì sẽ yêu cầu "Hãy cho tôi biết luôn quan điểm của anh đi".
Tương tự, người Nhật cũng thấy một số biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân kiểu Mỹ thật bất lịch sự và khó gần. Người Mỹ thường có xu hướng nói theo kiểu "theo ý kiến của tôi", "tôi nghĩ là...", để vừa thể hiện tính cá nhân đồng thời thận trọng về việc nói thay ý kiến người khác. Tuy nhiên, điều đó có thể tạo ấn tượng tự cao tự đại.
Trớ trêu thay, cả hai cách đều nhằm mục đích thể hiện sự khiêm tốn: Nói "chúng tôi" có thể là một cách để hạ thấp quan điểm của cá nhân xuống, còn nói "theo cách nhìn của tôi" thì có thể là một cach để chỉ rằng người đó không có ý nói thay cho người khác.
Ở Nhật, lòng trung thành dành cho trường học tồn tại rất lâu, và khi một người tham gia vào một tổ chức, như công ty chẳng hạn, thì thường sẽ là sự gắn bó lâu dài. Chuyển từ trường này sang trường khác hay công ty này sang công ty khác rất hiếm thấy trước khi bong bóng kinh tế vỡ vào những năm 1990, và đến bây giờ vẫn rất ít.
Ở Nhật, thay đổi không được khuyến khích, vì người chen ngang sẽ không thể tích luỹ được những kinh nghiệm chung với những người đã ở cùng nhau một thời gian dài. Thay đổi từ trường này qua trường khác hay từ công ty này sang công ty khác được coi là gián đoạn; việc đó không đóng góp gì cho sự hoà hợp của nhóm.
Thông lệ tuyển dụng
Nhân viên Nhật Bản thường được tuyển dụng theo nhóm hay "lớp", mỗi năm một lần, rất giống sinh viên nhập trường. Dù hoạt động có thể khác nhau, họ đều làm việc cùng nhau, ăn cùng nhau và một số người có thể sống cùng nhau trong khu ký túc xá của công ty. Do đó, khả năng sống hoà thuận với những người khác là một tiêu chí quan trọng để được tuyển dụng.
Ra quyết định
Trong phần lớn các trường hợp, người Nhật thích đưa ra quyết định dựa trên sự đồng lòng hơn là theo biểu quyết. Mọi người nên bàn bạc cho tới khi đạt được thoả thuận nào đó. Nếu có vẻ như không thể thống nhất, thì tốt nhất là hoãn việc ra quyết định lại.
2. Trật tự xã hội
Nhiều người nước ngoài tới làm việc ở Nhật cho rằng người Nhật ý thức thái quá về địa vị của người này với người khác, đặc biệt là tuổi tác và thâm niên.
Trật tự tôn kính ở Nhật là: 1/ Người trẻ hơn nghe theo người lớn tuổi hơn; 2/ Trong một tổ chức, sự tôn trọng được dành cho người có thâm niên nhiều hơn; 3/ Khi chào, những người đang muốn được ưu ái thì cúi thấp hơn (ví dụ người bán hàng cúi đầu trước khách hàng).
Tuy nhiên, lớn hơn không có nghĩa là muốn làm gì thì làm. Anh hay chị có trách nhiệm đặc biệt với cha mẹ và các em. Lớn hơn không nhất thiết là vị trí đáng ganh tỵ. Người nhỏ hơn có thể phụ thuộc và dựa vào sự hỗ trợ của người lớn hơn, hình thức này cũng đúng với các lứa tuổi khác nhau khi học cùng một trường.
Đây là mối gắn kết tiền bối - hậu bối (senpal - kohai), nó còn tiếp tục rất lâu sau thời kỳ đại học và mở rộng sang thế giới công việc, ở đó, các cựu sinh viên tìm kiếm và trao đi sự ưu ái với nhau vì mối gắn kết vì - chứ không phải bất chấp - khác biệt tuổi tác của họ.
Trong một tổ chức, một người trẻ có thể có khả năng tốt hơn người lớn tuổi, và có thể những người khác cũng nhận ra điều đó mà không cần thể hiện ra ngoài, nhưng người trẻ hơn sẽ vẫn thể hiện sự tôn kính với người nhiều tuổi hơn.
Trong các cuộc gặp xuyên văn hoá, mọi thứ có thể bị xáo trộn. Sự lúng túng sẽ giảm đi nếu cả hai chuyện trò bằng tiếng Anh, thứ ngôn ngữ ít đòi hỏi phải điều chỉnh cẩn thận để phù hợp với mỗi tình huống xã hội hơn là tiếng Nhật.
Senpai và Kohai
Ba từ để mô tả các mối quan hệ cực kỳ quan trọng ở Nhật là senpai, kohai và doki. Senpai chỉ một người là tiền bối của người khác và kohai chỉ người ở địa vị thấp hơn trong tổ chức, doki chỉ những người trong nhóm gia nhập tổ chức cùng một lúc.
Tôn trọng theo tuổi tác, thâm niên và chú ý tới thứ bậc trên dưới của tổ chức xuất hiện trong giao tiếp hàng ngày ở Nhật.
Ở công sở, những người mới được tuyển thường chỉ thực thi những công việc lặt vặt, thường là trong cả năm đầu tiên. Trong năm đầu này, họ dỡ đồ, phát thư trong nội bộ, đến văn phòng sớm hơn những người khác để sắp xếp tài liệu, thậm chí là lau dọn văn phòng.
Mối quan hệ senpai - kohai tương tự như quan hệ cha mẹ - con cái, rất hiển nhiên trong các tổ chức ở Nhật Bản. Kohai có thể mong chờ ở vị senpai của mình sự bảo đảm và giúp đỡ, thậm chí đôi khi cả sự bảo vệ che chở nữa, cũng như một người chờ đợi những hỗ trợ về tinh thần của cha mẹ khi cần.
Doki, theo nghĩa đen là "cùng kỳ". Các doki được cử về các bộ phận khác nhau và rồi được thuyên chuyển từ bộ phận này sang bộ phận khác trong những năm đầu ở công ty, nên mạng lưới doki của một người sẽ nhanh chóng được mở rộng trong tổ chức. Dù không xuất hiện trong bất cứ sơ đồ tổ chức chính thức nào, nhưng mạng lưới doki là sức mạnh chính trong sự bền chặt và đoàn kết của các tổ chức Nhật Bản.
Mong muốn hoà nhập
Vì chắc chắn sẽ gặp khó khăn với tiếng Nhật, nên những người mới đến thường cần có ai đó giúp đỡ. Hầu hết các đồng nghiệp người Nhật không thể giúp đỡ được gì nhiều, nhưng có ai để đặt câu hỏi bằng tiếng Anh sẽ giúp giảm đáng kể cảm giác lo lắng của một người nước ngoài làm việc trong một tổ chức Nhật Bản. Những người này tình nguyện giúp đỡ các thực tập sinh.
Thường thì một người không lớn lên ở Nhật cần phải chủ động đề nghị được giúp đỡ và phát triển mối quan hệ với những người có thể giúp.
Cách thức vận hành: Xin phép
Một phụ nữ người Mỹ miêu tả kinh nghiệm khi làm việc tại một công ty ở Tokyo của mình: "Tôi được yêu cầu dọn sạch một trong những phòng làm việc mà nhóm tôi sử dụng. Nhưng mệnh lệnh này đầu tiên xuất phát từ shocho (giám đốc) của tôi, giám đốc nói với nhóm trưởng của tôi, nhóm trưởng nói với sếp thường trực của tôi, sếp thường trực sau đó nói lại với tôi. Ở đây không có chuyện làm việc trực tiếp với bất cứ ai".
Với người Mỹ, điều này có vẻ "thiếu hiệu quả". Nhưng trở lại câu chuyện trong lớp học mẫu giáo, khi giáo viên đóng vai trò là người đứng giữa trẻ em trong lớp với những người đến thăm và đề nghị những người khách nói mong muốn của họ với các em cho cô, cô đang thực hiện vai trò trung gian của mình, nếu không, buổi tiếp xúc có thể trở nên khó xử, bối rối, theo quan niệm của người Nhật.
Trong một tổ chức của Nhật, nhận thức về người có trách nhiệm luôn thường trực trong đầu. Đôi khi, trách nhiệm rơi chủ yếu vào người phụ trách (tantosha), nhưng trách nhiệm cũng tăng lên theo vị trí cao hơn trong mạng lưới tổ chức.
Ở Nhật, người ta không hay nghe thấy câu "đó không phải trách nhiệm của tôi".
Các vấn đề giới tính
Ở mọi cấp độ danh tính cá nhân và mối quan hệ, giới tính là một vấn đề quan trọng cần lưu tâm.
Những người nước ngoài khi đến làm việc tại Nhật nên thận trọng khi đưa ra giả định về đồng nghiệp và những mối quan hệ với đồng nghiệp chỉ dựa trên cơ sở giới tính. Một kỹ sư người Mỹ đến làm việc ở Nhật đã kỳ vọng rằng, hầu hết phụ nữ ở phòng thí nghiệm sẽ là trợ lý hay chủ yếu là thư ký.
Thật ngạc nhiên, người đứng đầu bộ phận và giám sát anh là một phụ nữ, có bằng tiến sĩ khoa học và nhiều năm kinh nghiệm chuyên môn. Tuy nhiên, anh vẫn thấy nhiều phụ nữ anh quen biết có nền tảng học vấn ngang với anh làm những công việc sơ đẳng hơn, và anh kết luận rằng điều này phản ánh một sự thiên lệch giới tính trong tổ chức và người giám sát của anh là một ngoại lệ.
Mất vài tháng anh mới dần hiểu được rằng, những người phụ nữ mà anh cảm thấy là bị chỉ định cho những công việc ít thử thách hơn vì họ là phụ nữ, thực ra đều là những người mới được tuyển dụng, những chuyên viên nghiên cứu sơ cấp, cả nam giới và nữ giới đều phải làm. Điều anh quy cho giới tính trên thực tế là nhiệm vụ do họ còn thiếu thâm niên trong tổ chức.
Theo truyền thống và cho tới ngày nay, trong gia đình, người phụ nữ quản lý về tài chính cũng như những vấn đề học hành của con cái và những trách nhiệm truyền thống khác. Phụ nữ với trình độ giáo dục ngang với bạn học nam vẫn giành được những công việc tương đương trong các công ty.
Nếu một phụ nữ kết hôn và sinh con, cô ấy có thể rời công ty một vài năm, tuy nhiên khi trở lại công ty, họ không có thâm niên như những nam giới có cùng xuất phát điểm.
Ở Nhật, có những lúc không hề có sự phân biệt giới tính, đó là khi thực hiện các dự án. Không hiếm thấy một quản lý dự án là nữ, giám sát một đội đông đảo nam giới. Nhưng trong giờ ăn trưa ở nơi làm việc, thường nam giới và phụ nữ sẽ ngồi ở những khu vực riêng trong phòng ăn.
Một phụ nữ Mỹ kể về kinh nghiệm làm việc ở Nhật của cô rằng, việc cô đi ra ngoài với sếp và nói chuyện về mục đích và kế hoạch tương lai, thậm chí cả những vấn đề cá nhân, không có gì là bất thường cả. "Tình huống đó ở Mỹ có thể sẽ bị nhìn nhận sai lệch - rằng có thể cô ta đang định làm gì đấy sau lưng ai đó hay đang ngoại tình", cô cho biết.
Nhiều phụ nữ trẻ Nhật coi việc kết hôn và sinh con là điều cốt yếu mà họ trân trọng, khát khao và mong mỏi. Những người khát lại đặt nặng sự thoả mãn bản thân và cống hiến cho xã hội qua những thành tựu trong nghề nghiệp. Nhiều người muốn có cả hai, đồng thời hoặc tuần tự.
3. Gặp nhau
Bầu không khí
Không khí hay bầu không khí cảm xúc, tuy mơ hồ nhưng lại là những cảm giác rất mãnh liệt - chúng là trọng tâm trong bối cảnh các mối quan hệ và giao tiếp giữa người với người ở Nhật.
Để "hiểu được bầu không khí" và cảm nhận người khác đang nghĩ hay cảm thấy gì mà không cần hỏi là cả một nghệ thuật, một dấu hiệu cho thấy sự chín chắn, và một phẩm chất quan trọng trong lãnh đạo và quản lý.
Điều quan trọng ở Nhật là giá trị của việc "hiểu được bầu không khí", và không phải lúc nào cũng cần hay muốn mọi chuyện được "nói rõ ra"
Nếu một buổi họp được triệu tập để xem xét một quyết định quan trọng, người quản lý hay người chịu trách nhiệm có thể hoãn ra quyết định nếu "bầu không khí" thể hiện rằng tốt hơn là nên đợi đến sau này, khi việc đi đến sự đồng thuận được dễ dàng hơn.
K.Y (kuki ga yomenai) là từ tiếng lóng ở Nhật, ám chỉ những người không hiểu được bầu không khí. K.Y cũng miêu tả cảm giác của rất nhiều người phương Tây tới làm việc ở Nhật.
Địa điểm
Địa điểm thường là một yếu tố cơ bản trong giao tiếp ở Nhật, nhiều đến nỗi người ta thay đổi địa điểm và thời gian để có được cuộc trò chuyện mà họ muốn.
Một vị quản lý ngân hàng người Úc từng tới Nhật, mô tả cảm giác hoang mang khi các đồng nghiệp Nhật cân nhắc rất nhiều trước khi quyết định nên gặp nhau ở nhà hàng nào trong buổi họp vào bữa tối. "Tôi đã nghĩ chủ yếu là vấn đề thuận tiện, thực đơn và giá cả. Nhưng những điều này có vẻ mới chỉ là những điều tối thiểu", ông nói.
Nguyên tắc về việc coi địa điểm là bối cảnh để diễn giải lời nói cũng như thúc đẩy hay chế ngự những điều có thể được nói ra là những đặc trưng giao tiếp không thể xem nhẹ ở Nhật.
"Ở Mỹ, lời nói là cách để giao tiếp; ở Nhật, lời nói là một cách để giao tiếp" - nhà nhân loại học Masao Kunihiro giúp chúng ta giải thích cách lý giải ngôn từ, và những điều có thể còn quan trọng hơn cả chính lời nói.
Khi từ ngữ quan trọng hơn ngữ cảnh, thì các điều khoản của hợp đồng thường có xu hướng cố định và cứng nhắc.
Trong một khảo sát ở Nhật, câu hỏi được đưa ra là nếu hợp đồng đã được ký, nhưng sau một khoảng thời gian thì việc đáp ứng các điều khoản là không thể, vì các điều kiện đã thay đổi, thì nên làm gì. Chưa tới một phần tư những người được khảo sát trả lời rằng "hợp đồng là hợp đồng", và người ta nên cảm thấy bị ràng buộc bởi các điều khoản đó. Hai phần ba đưa ra lựa chọn khác - bàn bạc với bên kia và xem có thể điều chỉnh được những gì.
"Với người thông thái thì chỉ một từ là đủ" là câu được nói ở phương Tây, nhưng lại vang dội ở Nhật.
Khi một người Nhật được một công ty Nhật tuyển dụng, họ có thể sẽ không nhận được một bản miêu tả công việc chính xác; nhân viên mới có thể thậm chí không biết lương và phúc lợi của họ sẽ thế nào, một tình thế mà không mấy người phương Tây cảm thấy thoải mái. Người phương Tây muốn lời hứa phải được nói rõ ràng. Người Nhật đặt lòng tin nhiều hơn vào những vấn đề khác - uy tín của công ty hay người đã tiến cử ứng viên.
Các tiêu chuẩn kép
Giao tiếp ở Nhật đánh giá cao sự nhạy bén đối với các tình huống, với việc làm hoặc nói những gì phù hợp trong một tình huống cụ thể. Người Nhật không mong muốn tất cả mọi người phải được đối xử cùng một cách trong tất cả các tình huống, họ cũng không nghĩ rằng sẽ là khôn ngoan nếu lúc nào cũng nói ra điều mình tin tưởng.
"Theo từng trường hợp" là một thành ngữ thường được sử dụng ở Nhật.
Tatemae và Honne
Nhiều người nghiên cứu về nước Nhật đã nghe đến thuật ngữ tiếng Nhật tatemae và honne dùng để mô tả hai tiêu chuẩn cùng tồn tại song song không mâu thuẫn.
Tatemae nghĩa đen là cấu trúc bên ngoài của một toà nhà - những biểu hiển ở bề mặt. Honne nghĩa đen là "tiếng nói thực sự". Người Nhật cho rằng giữa những điều người ta nói và nghĩ có thể có sự khác biệt.
Người Nhật thường xem xét hoàn cảnh mà vấn đề được bộc lộ, từ đó đánh giá xem bao nhiêu phản ánh là honne và bao nhiêu là tatemae. Ngữ cảnh là điều quan trọng bậc nhất.
Những người làm việc ở Nhật được khuyên phải luôn luôn xem xét hoàn cảnh mà điều gì đó được nói ra.
Người Nhật thể hiện sự tôn trọng và lòng biết ơn cùng sự lịch thiệp bằng cách nâng người kia lên, trong cả lời nói và hành động. Cả sự tôn kính nâng người khác lên và sự khiêm nhường hạ thấp mình đều là những nguyên tắc cơ bản trong mối quan hệ giữa người với người ở Nhật.
Người phương Tây cũng làm như người Nhật khi tán tụng, ca ngợi hay thể hiện sự quan tâm đến người kia, nhưng họ không sẵn sàng để trở nên lu mờ như những người bạn Nhật của họ.
Khi khách hàng cảm thấy mình không được người bán hàng cư xử nhã nhặn, hay khi cha mẹ cảm thấy họ không nhận được sự tôn trọng từ phía con cái, họ sẽ thấy phiền lòng hoặc cảm thấy bị tổn thương.
Văn hoá Mỹ lại không khuyến khích mọi người mong mỏi bất cứ cách đối xử đặc biệt nào mà không phải do họ đã "giành" được.
Người Nhật thường chuẩn bị kỹ cho các cuộc gặp mặt. Họ sẽ muốn biết ít nhất là đủ thông tin về người mà họ sẽ gặp lần đầu, để cư xử cho đúng mục đích, hơn là cố gắng tìm hiểu mối quan hệ vào lúc gặp mặt.
Do vậy, người Nhật thích sử dụng người trung gian để giới thiệu.
Người Nhật không thoải mái với "cuộc gọi lạnh lùng" từ những người muốn hợp tác trong công việc. Các doanh nhân tới một công ty Nhật mà không báo trước sẽ không bao giờ được ấn tượng tốt và chắc chắn là sẽ không được đón nhận một cách tốt đẹp. Công ty quả thật chưa sẵn sàng để tiếp nhận họ.
Các phong cách thương thảo
Tầm quan trọng của ngữ cảnh và kỳ vọng về việc có qua có lại đều là trọng tâm đối với các phong cách thương thảo ở Nhật, như được giải thích qua sự tách biệt giữa phong cách điều chỉnh (awase) và phong cách chọn lọc (erabi) của Kinhide Mushakoji - Phó hiệu trưởng và giảng viên quan hệ quốc tế của Đại học Liên Hiệp Quốc.
Phong cách erabi dành cho người thích lựa chọn, gắn với các nhà thương thảo người Mỹ.
Phong cách awase đặc trưng bởi các điều chỉnh liên tiếp trong một môi trường liên tục thay đổi. Nhà thương thảo phong cách awase có thể không có mục tiêu cố định trong đầu cho tới sau khi tham gia vào các cuộc thảo luận và cảm thấy những điều khả thi trong tình huống.
Khi người phương Tây và người Nhật thương thảo, ngay từ ban đầu có thể sẽ có những xung đột trong các hiệp ước. Một phía có thể sẽ muốn đưa ra các đề nghị ngay lập tức, muốn "đặt các quân bài của mình lên bàn". Người Nhật có lẽ không sẵn sàng làm như vậy, họ muốn dành nhiều thời gian hơn để trong lúc đó dần hiểu bên kia rõ hơn, nhằm nhận thấy điều gì có thể sẽ có hiệu quả.
Nếu một bên muốn có các hợp đồng chi tiết và chặt chẽ trong khi phía Nhật lại thích một tài liệu ít chính xác hơn đóng vai trò như một biểu tượng cho sự nỗ lực hợp tác của hai bên, thì có thể sẽ nảy sinh vấn đề. Phía Nhật có thể tiếp tục đàm phán về các biệt đãi sau khi hợp đồng được ký, một vị thế mà những người đã quen với phong cách erabi coi là không phù hợp.
4. Giao tiếp hàng ngày
Dù thời trang thay đổi năm này qua năm khác, và ở Nhật khác nhau một chút ở các vùng, nhưng hai đặc điểm bất biến của phục trang và diện mạo bên ngoài là gọn gàng và sạch sẽ.
Ta nên lưu ý rằng ăn mặc phù hợp mới chỉ là điều bận tâm đầu tiên. Cách cư xử thậm chí còn quan trọng hơn.
Một nghiên cứu về các cuộc phỏng vấn xin việc cho thấy những khác biệt giữa sinh viên Nhật và sinh viên Mỹ thành thạo tiếng Nhật. Một vài sinh viên Mỹ bắt chéo chân trong khi phỏng vấn, trong khi không sinh viên Nhật nào làm như vậy. Ở Nhật, bắt chéo chân trước mặt của ai đó lớn tuổi hơn hay ở địa vị cao hơn mình bị coi là bất lịch sự.
Với những người từ nước ngoài tới Nhật làm việc, lời khuyên là bắt đầu bằng cách ăn mặc cẩn trọng, quan sát xem những người khác mặc gì rồi điều chỉnh theo.
Giao tiếp ở Nhật chuộng "đi đường vòng". Một phiên dịch viên chuyên nghiệp người Nhật nói rằng: "Lối nói gián tiếp kiểu Nhật là một phần cách sống của chúng tôi. Không phải vì chúng tôi là những người tử tế và ân cần đến nỗi lo lắng về phản ứng của người khác. Chỉ là chúng tôi biết định mệnh và số phận của chúng tôi lúc nào cũng gắn với người khác".
Ở nơi mà một người là một phần của nhóm - gia đình hay công ty - cũng có thể có sự thẳng thắn khiến người ngoài phải choáng váng. Các vị sếp có thể đi thẳng vào vấn đề, mà theo tiêu chuẩn của phương Tây, điều dó có vẻ tàn khốc.
Khi hy vọng gặp ai đó lần đầu và đôi lúc, khi truyền đạt một thông tin khó khăn và tế nhị, người Nhật thấy rằng sử dụng bên thứ ba, hay người trung gian, có thể là cách hiệu quả nhất.
Tuy nhiên, có một "bên thứ ba" mà người Nhật ít dùng hơn so với các xã hội hiện đại khác: luật sư. Thực tế, vai trò của luật sư một phần là để giúp làm rõ và giảm những điều mơ hồ bằng cách chuyển các thông tin thành dạng văn bản, với thứ ngôn ngữ khiến mọi vấn đề trở nên rõ ràng với cả hai phía. Các hợp đồng của Mỹ thường rất nhiều chi tiết và đưa ra những thoả thuận, ý định và kết quả rõ ràng. Các hợp đồng của Nhật có vẻ chung chung và mơ hồ hơn.
Với quá trình toàn cầu hoá, sự có mặt và vai trò của luật sư đã tăng lên đáng kể ở Nhật, nhưng phần lớn là ở cấp độ công ty hay tổ chức khác. Nghĩa là người ta không hề nghĩ tới việc mâu thuẫn bình thường leo thang thành một thách thức pháp luật.
Người Nhật có cách chia buồn đúng, cách chào đón người trên đúng, cách đón năm mới đúng, cách mời nước và nhận quà đúng, từ chối một lời khen sao cho đúng... Tuy nhiên người Nhật không kỳ vọng người nước ngoài sẽ cố gắng hành động như họ.
Một nhà tư vấn kinh doanh người Nhật đưa ra lời khuyên: "Có nhiều việc bạn nên cố gắng làm cho đúng khi ở Nhật, nhưng người Nhật không kỳ vọng bạn làm mọi việc giống như cách họ làm. Bạn nên cố gắng biết điều gì người Nhật coi là cách thức phù hợp, và điều chỉnh theo".
Các cách nói "không"
Người Nhật trong khi trò chuyện thường gật đầu hơn bất cứ xã hội nào, và tần suất hơn gấp đôi so với người Mỹ.
Người phương Tây không quen thuộc với Nhật Bản thường nhầm gật đồng với đồng ý, trong khi điều đó chỉ đơn giản là dấu hiệu cho thấy người đó đang lắng nghe. Một số người Nhật cho biết họ cảm thấy bất an khi nói chuyện với người không gật đầu.
Mặc dù hành vi gật đầu không có nghĩa là đồng ý, nhưng lại mang tính xác nhận, vì người Nhật rất ngại nói "không" trực tiếp trong giao tiếp xã giao.
Nhà nghiên cứu Keiko Ueda đã xác định được 16 cách khác nhau truyền đạt câu nói "không", bao gồm đổi hướng câu chuyện, xin lỗi, nói "có" kèm theo điều kiện, và im lặng.
Khi trả lời câu hỏi về việc tìm thời gian gặp mặt, một người nói tiếng Anh có thể nói "Không, tôi không gặp bạn vào thứ Sáu được", còn người Nhật sẽ nói "Như thế có thể hơi khó".
Khi một nhà quản lý người Nhật trả lời một gợi ý hay một yêu cầu bằng một nhận xét kiểu như "Hừmmm, chuyện đó chắc sẽ khó đấy", hay "Để tôi nghĩ về chuyện đó đã", thì một người Nhật khác sẽ coi đó là dấu hiệu tương đối mạnh rằng câu trả lời là "không".
Hầu như người Mỹ nào cũng quen với câu "im lặng là vàng", nhưng ít ai biết đến nó ở dạng quen thuộc ở Nhật: "Nói là bạc, nhưng im lặng là vàng".
Quả thật, có rất nhiều câu tục ngữ Nhật thể hiện sự hoài nghi với lời nói và đánh giá cao sự im lặng. "Thùng rỗng kêu to" là một câu được ưa thích. Trong giao tiếp, nói quá nhiều cũng có thể là dấu hiệu của sự thiếu chín chắn hoặc một dạng đầu rỗng.
Người Mỹ thường tin rằng nếu có điều gì đó chưa được nói thành lời thì nó chưa được truyền đạt, và nếu ai đó có gì đó để nói thì họ nên nói ra.
Người Nhật và người Mỹ thường khiến nhau bối rối do cách họ nói chuyện và đối xử với sự im lặng. Một người Mỹ hỏi người Nhật một câu và có một khoảng lặng trước khi người Nhật trả lời. Nếu câu hỏi là tương đối trực tiếp thì khoảng lặng thậm chí có thể còn dài hơn, vì người Nhật cân nhắc sao cho tránh được câu trả lời trực tiếp.
Tuy nhiên, người Mỹ có thể cho rằng khoảng lặng đó là do câu hỏi chưa được hiểu rõ, và sẽ nhắc lại cho rõ hơn. Việc diễn đạt thêm bằng lời nói chắc chắn chỉ khiến tình huống khó xử hơn cho người Nhật.
Ở Nhật, "mạnh dạn lên tiếng" có thể trở thành công kích.
Một người Nhật đã học ở Mỹ và từng sống vài năm ở Honolulu giải thích: "Nếu tôi nói với một người bạn Nhật rằng tôi vừa ở Los Angeles, bạn tôi sẽ hỏi tôi thấy những gì, tôi thích nơi đó không... Nhưng nếu tôi kể cho một người Mỹ câu chuyện tương tự, anh ta sẽ noi: "Ồ, Los Angeles hả! Tôi có một người anh họ sống ở Long Beach đấy. Tôi đã từng đến đấy. Tôi thích Los lắm và năm ngoái lúc tôi đi mua sắm ở đó...”. Thật khó chịu khi ai đó chuyển hướng câu chuyện sang nói về họ".
Khiêm tốn là một đức hạnh, một thái độ lịch thiệp xã giao trong hầu hết các xã hội. Một người khoe mẽ, chỉ biết đến mình, thì dù ở Sydney hay Saporo cũng làm người khác chán. Người Nhật cũng như người phương Tây đánh giá cao người anh hùng gạt đi những lời khen tặng dành cho hành động của họ. Tuy nhiên, cũng có đôi chút khác biệt.
Khi một người Nhật đưa ra lời đề nghị với người khác, như tặng một món quà hay một bữa ăn mà người đó đã chuẩn bị, có những biểu hiện cố định cho sự khiêm nhường: "Chẳng có gì đâu" hay "Không có gì đặc biệt đâu".
Đừng bao giờ đón nhận những lời xin lỗi theo giá trị bên ngoài. Người chủ xin lỗi khách rằng "Thật chẳng có gì đặc biệt để đãi anh cả" nhưng thật ra họ đã dành gần hai ngày để lên kế hoạch và chuẩn bị bữa ăn. Tất nhiên, khách nên phản đối sự phủ nhận đó.
Bởi mỗi người đều gắn bó chặt chẽ với gia đình, nên khen ngợi vợ chồng hay con cái cũng giống như ca ngợi chính mình, theo người Nhật. Sự ngần ngại ca ngợi công khai những phẩm chất tốt của gia đình là một lý do khiến người Nhật thấy lạ khi các doanh nhân phương Tây để ảnh của vợ chồng hay gia đình họ trên bàn ở văn phòng.
Khái niệm thể diện ở Nhật bắt nguồn chủ yếu từ tầm quan trọng mà các giá trị phương Tây dành cho một cá nhân.
Theo quan điểm của người Nhật, một người đối xử với người khác và được người khác đối xử lại có tầm quan trọng vô cùng lớn.
Điều người khác nghĩ về một người thực sự rất hệ trọng ở Nhật. Quan tâm tới những gì người khác nghĩ, quan trọng nhất là những người thiết lập nên nhóm, là giá trị cơ bản và lẽ đương nhiên ở Nhật. Ý thức này đôi khi dẫn tới việc sống như thể để gánh trách nhiệm thay cho người khác.
Ở Nhật, người ta sợ bị mất thể diện do gây ra lỗi lầm nhiều hơn rất nhiều so với việc bị ai đó cố tình sỉ nhục. Những người phương Tây làm việc gần với người Nhật một thời gian sẽ học được cách cẩn trọng trong cách họ đối xử với người khác, vì sợ xúc phạm tới họ.
Tuy nhiên, cũng có những vị sếp người Nhật rất thẳng thắn trong việc trách mắng một nhân viên trước mặt người khác. Dù ngày nay không còn thường xuyên thấy trong các tổ chức của Nhật, nhưng phong cách độc đoán này trong các nhóm vẫn tồn tại cùng mối quan tâm về thể diện.
Người Nhật cũng rất nỗ lực để giúp "bao che" cho người khác nhằm ngăn chặn hoặc "cứu" những tình huống có thể khiến bạn bè hay đồng nghiệp phải xấu hổ. Về khía cạnh này, mối quan tâm về "thể diện" có thể chiếm vị trí ưu tiên so với những mối quan tâm khác.
Một vị lãnh đạo người Nhật làm việc ở Tokyo gần bằng thời gian làm việc ở New York nói rằng, cô thấy rất thú vị với cách nói của người Mỹ, "da mỏng" nghĩa là "quá nhạy cảm với điều người khác nói".
"Tôi nghĩ, những người Mỹ làm việc với người Nhật cần phải có "da mỏng hơn", và người Nhật làm việc với người Mỹ - đặc biệt ở New York - cần phải trở nên "da dày hơn", bởi vì ý nghĩa và hậu quả của những gì người khác nói về chúng ta hay về cách người khác đối xử với chúng ta ở mỗi quốc gia là khác nhau", cô kết luận.
(Còn phần 2)

 

Author Name

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.